Rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens) là côn trùng chích hút ở gốc lúa, gây cháy rầy và truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Khi khách hỏi thuốc trừ rầy nâu, đại lý cần nắm ba việc: tuổi rầy và mật số, hoạt chất có rầy nâu trên nhãn, cách đổi nhóm IRAC giữa các lứa rầy.
- Dùng thuốc khi mật độ từ 1.000 con/m² trước trỗ, từ 2.000 con/m² sau trỗ, lúc rầy cám tuổi 1–3 phổ biến (TBKT 01-88:2018).
- Mục thuốc trừ sâu của Phụ lục I Thông tư 75/2025/TT-BNNMT có 578 tên ghi rầy nâu (theo đếm của chúng tôi); 286 tên chứa hoạt chất nhóm 4A. Đổi imidacloprid sang dinotefuran hay thiamethoxam vẫn là 4A, không phải luân phiên.
- Thuốc chứa benfuracarb được buôn bán, sử dụng 01 năm, carbosulfan 02 năm kể từ 10/02/2026 (Điều 2 Thông tư 75/2025/TT-BNNMT).
- Không phun ngừa, không phun định kỳ (Công văn 661/BVTV-BPTT, 04/2012, gửi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long).
Tình trạng: Danh mục hiện hành theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, sửa bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT; Phụ lục I đọc từ tệp ký số của Bộ, cần đối chiếu Công báo khi dùng chính thức; dự thảo danh mục mới dự kiến hiệu lực năm 2027 · Nguồn: văn bản gốc liệt kê cuối bài.
Nhận biết rầy nâu hại lúa
Vòng đời rầy nâu: trứng, rầy cám, trưởng thành
Vòng đời rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål, họ Delphacidae) khoảng 25–30 ngày, thay đổi theo mùa (VAAS). Rầy non có 5 tuổi (Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Soa, 2021); rầy cám là rầy non tuổi 1–3 (TBKT 01-88:2018).

| Giai đoạn | Thời gian | Nhận biết | Gợi ý khi tư vấn |
|---|---|---|---|
| Trứng | 6,8–7,6 ngày | Cong hình quả chuối, nằm sát nhau trong bẹ lá, gân lá | Phun khi rầy đã lớn thì trứng vẫn nở tiếp |
| Rầy cám (tuổi 1–3) | Khoảng 8–9 ngày | Tuổi 1 trắng xám, các tuổi sau vàng nâu | Lúc so mật độ với ngưỡng; thuốc chống lột xác hợp tuổi 1, tuổi 2 (cổng Cục Bảo vệ thực vật, 2011) |
| Rầy non tuổi 4–5 | Khoảng 7 ngày | Vàng nâu, lớn hơn rầy cám | Rầy đã lớn, thuốc chống lột xác dễ thất bại |
| Trưởng thành | 3–20 ngày (VAAS); 10–30 ngày (IRAC) | Nâu đến nâu đậm; thân dài 3,7–5 mm (cánh dài), 2,4–3,3 mm (cánh ngắn) | Rầy vào đèn rộ: 10–15 ngày sau là lứa rầy tuổi 2–3 |

Cháy rầy, vàng lùn và lùn xoắn lá
Cháy rầy là tình trạng lá lúa chuyển vàng cam, nâu rồi khô do rầy chích hút với mật độ cao (IRRI Rice Knowledge Bank); đây là thiệt hại do côn trùng, không phải bệnh. Muốn phân biệt với cháy do bọ xít đen, tìm nấm bồ hóng ở gốc lúa (IRRI).

Rầy nâu truyền bệnh vàng lùn (RGSV) và lùn xoắn lá (RRSV), mang virus suốt đời nhưng không truyền qua trứng (Cabauatan và cộng sự, 2009). Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) có dải trắng dọc từ đỉnh đầu đến lưng ngực (Dupo và Barrion, 2009), là môi giới bệnh lùn sọc đen (cổng Cục Bảo vệ thực vật, 2011).
Mật số và tuổi rầy: khi nào nên phun
TBKT 01-88:2018, quy trình quản lý kháng thuốc rầy nâu, rầy lưng trắng của Cục Bảo vệ thực vật (nay là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật), hướng dẫn điều tra 7 ngày/lần và dùng thuốc khi mật độ từ 1.000 con/m² trước trỗ, từ 2.000 con/m² sau trỗ, lúc rầy cám phổ biến. Bình thường tập trung phòng trừ từ đòng già đến đỏ đuôi; trước làm đòng chỉ phòng trừ khi bệnh virus có nguy cơ bùng phát.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị phòng chống diện tích mật độ cao ngay từ khi rầy tuổi 2–3 (văn bản gửi các tỉnh phía Bắc, theo báo Nhân Dân 17/08/2025); Chi cục tỉnh Vĩnh Long (04/2026) khuyến cáo chỉ phun khi rầy ở tuổi 2–3. Rầy tuổi này nở rộ khoảng 10–15 ngày sau khi rầy vào đèn (cổng Cục Bảo vệ thực vật, 2011).
Không phun ngừa, giữ thiên địch
Công văn 661/BVTV-BPTT (04/2012) của Cục Bảo vệ thực vật gửi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ghi “tuyệt đối không phun ngừa, không phun theo định kỳ” (bản trích). Thuốc diệt cả thiên địch thì trứng rầy nở ra không còn bị kìm hãm; thiên địch nhiều hơn rầy thì nguy cơ cháy rầy thấp (IRRI Rice Knowledge Bank).
Ngoài thuốc, TBKT 01-88:2018 dặn gieo cấy tập trung để né rầy theo bẫy đèn và lịch thời vụ, không bón thừa đạm, không dùng thuốc hoá học khi chưa cần để giữ bọ xít mù xanh, nhện, ong ký sinh trứng rầy.
Năm việc hỏi, dặn khách trước khi bán
- Hỏi mật độ: đếm ở gốc lúa, so với ngưỡng; Khánh Hoà (03/2026) ghi “từ 1.000 con/m² (khoảng 3 con/dảnh)”.
- Hỏi tuổi rầy: còn rầy cám hay đã toàn rầy lớn, cánh dài.
- Hỏi giai đoạn lúa: trước trỗ dùng được thuốc nội hấp, lưu dẫn, điều hoà sinh trưởng côn trùng; trỗ–chín cần thuốc tiếp xúc (TBKT 01-88:2018).
- Dặn phun sát gốc: rẽ lúa thành băng, dâng nước 3–5 cm nếu chủ động được, đủ 400–600 lít nước thuốc/ha (TBKT 01-88:2018).
- Hẹn kiểm tra lại sau 3–7 ngày: rầy còn tăng mới phun lại, đổi nhóm IRAC.
Thuốc trừ rầy nâu trong Danh mục theo nhóm IRAC
Theo đếm của AGC Việt Nam, mục thuốc trừ sâu của Phụ lục I Thông tư 75/2025/TT-BNNMT có 578 tên ghi rầy nâu: 308 tên thuốc đơn và 270 tên hỗn hợp. Có tên trong Danh mục chưa chắc còn hiệu quả ở mọi vùng, vì rầy có thể đã kháng (Bảng 3).
| Nhóm IRAC | Hoạt chất (số tên) | Khi tư vấn |
|---|---|---|
| 4A (119) | Imidacloprid (43), dinotefuran (23), acetamiprid (21), thiamethoxam (14), nitenpyram (13), clothianidin (3), thiacloprid (2) | Đổi qua lại không phải luân phiên |
| 6 (56) | Abamectin (30), emamectin benzoate (26) | Chủ yếu là thuốc sâu cuốn lá ghi kèm rầy nâu (55/56 tên) |
| 1A (34) | Fenobucarb (18), carbosulfan (6), carbaryl (3), isoprocarb (3), benfuracarb (2), pirimicarb (1), thiodicarb (1) | Carbosulfan, benfuracarb đang chuyển tiếp |
| 16 (28) | Buprofezin (28) | Chất ức chế lột xác (PPDB) |
| 9B (21) | Pymetrozine (21) | Làm rối loạn hành vi ăn của rầy (IRAC) |
| 29 (3) | Flonicamid (3; Thông tư 28/2026 thêm 1 tên) | Khác hẳn nhóm 4 |
| 4C, 4E (2) | Sulfoxaflor (1), triflumezopyrim (1) | Cùng nhóm 4 với 4A |
| Khác (45) | 3A (9) và phần còn lại (36) | Xem nhãn |
Cả 11 tên thuốc đơn chlorantraniliprole (IRAC 28) của mục thuốc trừ sâu đều không ghi rầy nâu, nên không bán thay thuốc rầy.
Điều 2 Thông tư 75/2025/TT-BNNMT: kể từ 10/02/2026, thuốc chứa carbosulfan được buôn bán, sử dụng 02 năm; thuốc chứa benfuracarb 01 năm và không được nhập khẩu. Rà cả thuốc hỗn hợp; nhập vừa đủ bán.
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng; liều và thời gian cách ly theo nhãn đã đăng ký.
Luân phiên nhóm IRAC khi trừ rầy nâu
Luân phiên nhóm IRAC là dùng thuốc khác nhóm cơ chế tác động cho lứa rầy kế tiếp (IRAC 11.5, 02/2026). Đổi tên thương phẩm hay đổi hoạt chất trong cùng nhóm, ví dụ 4A, không phải luân phiên.
Trong 578 tên nói trên, 145 tên chỉ chứa hoạt chất 4A, nên đổi tên thuốc dễ vẫn là 4A. Thuốc hỗn hợp nên tính là đã dùng mọi nhóm có trong thuốc: lứa trước phun 4A + 16 thì lứa sau tránh cả hai. Kháng chéo giữa imidacloprid, thiamethoxam và clothianidin ở rầy nâu: xem hồ sơ thiamethoxam (IRAC 4A).
TBKT 01-88:2018 ưu tiên thuốc mà rầy chưa biểu hiện kháng (Ri dưới 10, RR dưới 3); mỗi loại chỉ nên dùng 1 lần/vụ, không quá 3 vụ liên tục; hạn chế imidacloprid, fenobucarb, fipronil (nay không có trong Phụ lục I) và thuốc có từ trên 2 hoạt chất. Một trong năm công thức luân phiên mẫu (mã IRAC do chúng tôi gắn): sulfoxaflor (4C) → dinotefuran (4A) → pymetrozine (9B).
Công thức này đặt 4C liền 4A, hai nhóm con của nhóm 4. IRAC 11.5 ghi nguy cơ kháng chéo chuyển hoá giữa các nhóm con này thấp nhưng vẫn khuyên tránh luân phiên giữa chúng khi còn thuốc nhóm khác hiệu quả, đã đăng ký. Nên xen nhóm khác (9B, 16, 29) giữa hai lần dùng nhóm 4, ưu tiên nhóm còn kháng thấp ở địa phương (Bảng 3).
Hệ số kháng của rầy nâu theo miền
Ri là chỉ số kháng: rầy ngoài đồng cần lượng thuốc gấp bao nhiêu lần dòng rầy mẫn cảm mới chết một nửa (theo Lê Thị Kim Oanh và cộng sự). Một báo cáo kháng thuốc không có nghĩa thuốc hết dùng được trong vùng (IRAC, 2024); mức hiện nay hỏi cơ quan bảo vệ thực vật địa phương.
| Hoạt chất (nhóm IRAC) | Miền Bắc | Miền Trung | Miền Nam |
|---|---|---|---|
| Imidacloprid (4A) | 25,4–39,2 | 16,7–23,5 | 132,4–219,2 |
| Fenobucarb (1A) | 15,8–23,3 | 13,2–15,7 | 81,8–139,8 |
| Thiosultap sodium (14) | 3,6–13,5 | 3,3–6,4* | 22,4–50,9 |
| Profenofos (1B) | 6,6–12,5 | 3,8–8,7* | 11,0–23,9 |
| Thiamethoxam (4A) | 7,0–14,7 | 7,5–10,9 | 8,2–15,3 |
| Dinotefuran (4A) | 6,6–15,6 | 4,6–7,5* | 6,8–17,5 |
| Nitenpyram (4A) | 4,6–11,8 | 4,4–10,9 | 6,6–16,6 |
| Pymetrozine (9B) | 4,8–11,3 | 4,2–12,2 | 4,9–15,4 |
| Buprofezin (16) | 2,6–5,5 | 2,3–3,1 | 6,2–18,7 |
| Emamectin benzoate (6) | 1,2–2,4* | 1,5–1,6* | 4,7–10,1 |
| Sulfoxaflor (4C) | 1,0–1,3* | 1,4–2,0* | 3,3–8,1* |
| Flonicamid (29) | 1,2–1,4* | 1,1–1,3* | 1,4–1,7* |
Tư vấn khách mua thuốc rầy tại quầy
| Khách nói | Hỏi lại | Hướng tư vấn |
|---|---|---|
| “Phun rồi rầy vẫn nhiều” | Hoạt chất gì, rầy tuổi mấy, phun tới gốc chưa? | Phun kém hiệu quả nhiều khi không do kháng thuốc (IRAC, 2024); phun lại thì đổi nhóm IRAC, không tăng liều. |
| “Lấy thuốc sâu cuốn lá trị luôn rầy” | Nhãn có ghi rầy nâu không? | Nhãn ghi rầy nâu mới tính là thuốc rầy; phun sớm nhắm sâu ăn lá thường làm lợi cho rầy (Heong, 2009). |
| “Lúa sắp cắt mà còn rầy” | Còn mấy ngày đến thu hoạch? | Chọn tên có rầy nâu trên nhãn, thời gian cách ly không dài hơn số ngày còn lại. |
Xếp kệ, tồn kho theo nhóm cơ chế
- Ghi nhóm IRAC vào mẫu sổ nhập xuất tồn; hỗn hợp ghi đủ các nhóm.
- Giữ ít nhất ba nhóm khác nhau có rầy nâu trên nhãn (hai thuốc 4A chỉ là một nhóm); hàng mới tính giá bằng công cụ tính giá bán có lãi.
- Chỉ bán tên có rầy nâu, lúa trên nhãn; xem điều kiện bán thuốc BVTV năm 2026.
Tra nhóm IRAC trước khi tư vấn
Tra nhóm của hoạt chất trước khi đổi thuốc cho khách; thêm cột nhóm IRAC vào sổ tồn.
Câu hỏi thường gặp
Rầy cám là rầy non tuổi 1–3 của rầy nâu, theo quy trình TBKT 01-88:2018 của Cục Bảo vệ thực vật. Rầy nâu có 5 tuổi rầy non; khi nuôi ở 26–30 °C, trứng nở sau khoảng 7 ngày và năm tuổi rầy non kéo dài khoảng 15–16 ngày (cộng từ Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Soa, 2021).
Không phải bệnh. Cháy rầy là khi rầy chích hút với mật độ cao làm lá lúa chuyển vàng cam, nâu rồi khô (IRRI Rice Knowledge Bank). Bệnh do rầy nâu truyền là vàng lùn và lùn xoắn lá, do virus; rầy mang virus suốt đời nhưng không truyền qua trứng (Cabauatan và cộng sự, 2009).
Không. Imidacloprid, dinotefuran, thiamethoxam, nitenpyram cùng nhóm 4A, đổi qua lại vẫn là dùng một nhóm cơ chế. IRAC 11.5 khuyên không xử lý các lứa rầy kế tiếp bằng thuốc cùng nhóm và tránh đổi qua lại giữa các nhóm con 4A, 4C, 4E khi còn thuốc nhóm khác hiệu quả, đã đăng ký.
Không bán theo kiểu phun ngừa. Công văn 661/BVTV-BPTT (04/2012) của Cục Bảo vệ thực vật gửi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ghi “tuyệt đối không phun ngừa, không phun theo định kỳ” vì dễ gây bộc phát rầy (bản trích của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia). Hỏi lại mật độ, tuổi rầy, giai đoạn lúa; theo TBKT 01-88:2018, trên mạ và lúa trước làm đòng chỉ phòng trừ rầy khi bệnh virus có nguy cơ bùng phát.
Thuốc chứa benfuracarb và carbosulfan. Theo Điều 2 Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, benfuracarb được buôn bán, sử dụng 01 năm và carbosulfan 02 năm kể từ ngày Thông tư có hiệu lực (10/02/2026). Dự thảo danh mục mới, chưa có hiệu lực, ghi mốc đến hết 10/02/2027 và 10/02/2028; đại lý nên tự đối chiếu văn bản khi lên kế hoạch tồn kho.
Nguồn tham khảo
- Quyết định 1757/QĐ-BVTV-KH công nhận Quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa (TBKT 01-88:2018/BNNPTNT) — Cục Bảo vệ thực vật, 28/06/2018 (bản quét ảnh; số liệu đề tài 2013–2017)
- Thông tư 75/2025/TT-BNNMT ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép, cấm sử dụng tại Việt Nam và Phụ lục I — Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 26/12/2025, hiệu lực 10/02/2026
- Thông tư 28/2026/TT-BNNMT sửa đổi Thông tư 75/2025/TT-BNNMT và Phụ lục — Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 30/06/2026, hiệu lực 15/08/2026
- Dự thảo Thông tư ban hành Danh mục thuốc BVTV (dự thảo, chưa có hiệu lực) và Phụ lục 1 dự thảo — Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 10/2026
- Mode of Action Classification Scheme, Version 11.5 và Mode of Action Classification Brochure, Edition 11.5 — IRAC, 02/2026
- Factors involved with lower-than-expected insecticide field performance are often not related to insecticide resistance, Version 1 — IRAC, 03/2024
- Brown planthopper, Nilaparvata lugens — IRAC, trang loài (không ghi năm)
- Buprofezin, Pesticide Properties DataBase (PPDB) — University of Hertfordshire
- Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens Stal.) và biện pháp hoá học phòng trừ tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà — Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Soa, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Vinh, Tập 50, Số 4A, 2021, tr. 55–62
- Bài 59: Rầy nâu, Ngân hàng kiến thức trồng lúa — Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS; trang không ghi năm)
- Planthoppers: new threats to the sustainability of intensive rice production systems in Asia — Heong K.L., Hardy B. (biên tập), IRRI, 2009 (tệp PDF khoảng 48 MB); đọc các chương của Dupo và Barrion, Heong, Cabauatan và cộng sự
- Planthopper, Rice Knowledge Bank — IRRI (trang không ghi năm)
- Khẩn trương ngăn chặn, phòng trừ rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa tại các tỉnh phía Nam — Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 27/04/2012 (bản trích Công văn 661/BVTV-BPTT ngày 23/04/2012 của Cục Bảo vệ thực vật; chưa đọc văn bản gốc)
- Cảnh giác rầy nâu, rầy lưng trắng cuối vụ — bài đăng trên cổng Cục Bảo vệ thực vật, 08/06/2011 (nguồn nongnghiep.vn)
- Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy nâu Nilaparvata lugens Stal. ở một số tỉnh ở đồng bằng sông Hồng và vùng đông bắc bộ — Lê Thị Kim Oanh và cộng sự, Trung tâm Kiểm định và Khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật phía Bắc, Cục Bảo vệ thực vật (thí nghiệm 2008–2010; tệp Word)
- Sâu bệnh lây lan mạnh trên lúa hè thu và lúa mùa — báo Nhân Dân, 17/08/2025 (dẫn văn bản của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật gửi các tỉnh phía Bắc; chưa đọc văn bản gốc)
- Khánh Hòa tập trung bảo vệ mùa màng trước áp lực sinh vật gây hại — Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Khánh Hoà, đăng trên cổng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 24/03/2026
- Cảnh báo sâu bệnh gia tăng gây hại trên lúa hè thu sớm — Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Vĩnh Long, đăng trên cổng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 21/04/2026
